Nhập từ khóa tìm kiếm

CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

Sốt xuất huyết đang lan tràn thành dịch. Mỗi các bạn cần có những nắm rõ chủ công về bệnh để bảo vệ mình và người thân khỏi căn bệnh nguy nan này. Dưới đó là bản hướng dẫn kết luận và điều trị sốt xuất huyết Dengue của Bộ Y tế để độc giả tìm hiểu thêm .

I. ĐẠI CƯƠNG

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây nên. Vi rút Dengue có 4 týp thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ bệnh nhân sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là sâu bọ trung gian truyền bệnh chủ công .

Bệnh xảy ra quanh năm, thường ngày càng tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả con trẻ và người lớn. Điểm sáng của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm dung tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được kết luận sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong .

II. DIỄN BIẾN LÂM SÀNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

Bệnh sốt xuất huyết Dengue có diễn đạt lâm sàng nhiều chủng loại , cốt truyện cuống quýt từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và cốt truyện qua ba thời đoạn : thời đoạn sốt, thời đoạn nguy nan và thời đoạn bình phục . Phát hiện sớm bệnh và hiểu rõ những luận điểm lâm sàng trong từng thời đoạn của bệnh giúp kết luận sớm, điều trị đúng và kịp thời, nhằm cứu sống bệnh nhân .

1. Giai đoạn sốt

1.1. Lâm sàng

– Sốt cao đột ngột , liên tiếp .

– Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn.

– Da xung huyết.

– Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.

– Nghiệm pháp dây thắt dương tính.

– Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam.

1.2. Cận lâm sàng.

– Dung tích hồng cầu (Hematocrit) đơn giản .

– Số lượng tiểu cầu đơn giản hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100.000/mm3).

– Số lượng bạch huyết cầu thường giảm.

2. Giai đoạn nguy nan : Thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh

2.1. Lâm sàng

a) Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt.

b) Có thể có các diễn đạt sau:

– Biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ):

+ Tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau.

+ Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các diễn đạt vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg), tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp , tiểu ít.

– Xuất huyết:

+ Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết tản mát hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai ống quyển và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím.

+ Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc sinh ra kinh sớm hơn kỳ hạn.

+ Xuất huyết nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là diễn đạt nặng.

c) Một số trường hợp nặng có thể có diễn đạt suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những diễn đạt nặng này có thể xảy ra ở một số bệnh nhân không có tín hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc.

2.2. Cận lâm sàng

– Hematocrit tăng đối chiếu giá trị khởi đầu của bệnh nhân hoặc đối chiếu giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi.

– Số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm3 (<100 G/L).

– Enzym AST, ALT thường tăng.

– Trong trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu.

– Siêu âm hoặc xquang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi.

3. Giai đoạn bình phục

3.1. Lâm sàng

Sau 24-48 giờ của thời đoạn nguy nan , có hiện tượng tái thu nạp dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch. Giai đoạn này kéo dài 48-72 giờ.

– Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động bình ổn và tiểu nhiều.

– Có thể có nhịp tim chậm và chỉnh sửa về điện tâm đồ.

– Trong thời đoạn này, nếu truyền dịch quá mức có thể gây ra phù phổi hoặc suy tim.

3.2. Cận lâm sàng

– Hematocrit trở về đơn giản hoặc có thể thấp hơn do hiện tượng pha loãng máu khi dịch được tái thu nạp trở lại .

– Số lượng bạch huyết cầu máu thường tăng đều sớm sau thời đoạn hạ sốt.

– Số lượng tiểu cầu dần trở về đơn giản , hơi trễ đối chiếu  số lượng bạch huyết cầu .

III. CHẨN ĐOÁN

1. Bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 mức độ

(Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2009):

– Sốt xuất huyết Dengue.

– Sốt xuất huyết Dengue có tín hiệu cảnh báo.

– Sốt xuất huyết Dengue nặng.

1.1. Sốt xuất huyết Dengue

a) Lâm sàng

Sốt cao đột ngột , liên tiếp từ 2-7 ngày và có ít nhất 2 trong các tín hiệu sau:

– Biểu hiện xuất huyết có thể như nghiệm pháp dây thắt dương tính, chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam.

– Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn.

– Da xung huyết, phát ban.

– Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.

b) Cận lâm sàng

– Hematocrit đơn giản (không có diễn đạt cô đặc máu) hoặc tăng.

– Số lượng tiểu cầu đơn giản hoặc hơi giảm.

– Số lượng bạch huyết cầu thường giảm.

1.2. Sốt xuất huyết Dengue có tín hiệu cảnh báo.

Bao gồm các hiện tượng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue, cố nhiên các tín hiệu cảnh báo sau:

– Vật vã, lừ thừ , li bì.

– Đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan.

– Gan to > 2 cm.

– Nôn – nhiều.

– Xuất huyết niêm mạc.

– Tiểu ít.

– Xét nghiệm máu:

+ Hematocrit tăng cao.

+ Tiểu cầu giảm cuống quýt .

Nếu bệnh nhân có những tín hiệu cảnh báo trên phải theo dõi sát mạch, huyết áp , số lượng nước tiểu , làm xét nghiệm hematocrit, tiểu cầu và có công năng truyền dịch kịp thời.

1.3. Sốt xuất huyết Dengue nặng

Khi bệnh nhân có một trong các diễn đạt sau:

– Thoát huyết tương nặng dẫn đến sốc giảm dung tích (Sốc sốt xuất huyết Dengue), ứ dịch ở khoang màng phổi và ổ bụng nhiều.

– Xuất huyết nặng.

– Suy tạng.

a) Sốc sốt xuất huyết Dengue

– Suy tuần hoàn cấp, thưởng xảy ra vào ngày thứ 3-7 của bệnh, diễn đạt bởi các hiện tượng như vật vã; bứt rứt hoặc li bì; lạnh đầu chi, da lạnh ẩm; mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg) hoặc tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp ; tiểu ít.

– Sốc sốt xuất huyết Dengue được chia ra 2 mức độ để điều trị bù dịch:

+ Sốc sốt xuất huyết Dengue: Có tín hiệu suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt hoặc tụt, cố nhiên các hiện tượng như da lạnh, ẩm, bứt rứt hoặc vật vã li bì.

+ Sốc sốt xuất huyết Dengue nặng: Sốc nặng, mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được.

– Chú ý: Trong quá trình cốt truyện , bệnh có thể chuyển từ mức độ nhẹ sang mức độ nặng, chính vì như thế khi kiểm tra cần phân độ lâm sàng để tiên lượng bệnh và có kế hoạch xử trí phù hợp .

b) Xuất huyết nặng

– Chảy máu cam nặng (cần nhét gạc vách mũi), rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ và ứng dụng , xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng, thường cố nhiên tình hình sốc nặng, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng.

– Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (aspirin), ibuprofen hoặc dùng corticoid, tiền sử loét bao tử , tá tràng, viêm gan mạn.

c) Suy tạng nặng

– Suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000 U/L.

– Suy thận cấp.

– Rối loạn tri giác (Sốt xuất huyết thể não).

– Viêm cơ tim, suy tim, hoặc suy tính năng các cơ quan khác.

2. Chẩn đoán nguyên cớ vi rút Dengue

2.1. Xét nghiệm huyết thanh

– Xét nghiệm nhanh:

+ Tìm kháng nguyên NS1 trong 5 ngày đầu của bệnh.

+ Tìm kháng thể IgM từ ngày thứ 5 trở đi.

– Xét nghiệm ELISA:

+ Tìm kháng thể IgM: xét nghiệm từ ngày thứ năm của bệnh.

+ Tìm kháng thể IgG: lấy máu 2 lần cách nhau 1 tuần tìm động lực kháng thể (gấp 4 lần).

2.2. Xét nghiệm PCR, phân lập vi rút: Lấy máu trong thời đoạn sốt (tiến hành ở các cơ sở vật chất xét nghiệm có điều kiện).

3. Chẩn đoán nhận biết

– Sốt phát ban do virus

– Sốt mò.

– Sốt rét.

– Nhiễm khuẩn huyết do liên cầu lợn, não mô cầu, vi khuẩn gram âm, …

Sốc nhiễm khuẩn.

– Các bệnh máu.

– Bệnh lý ổ bụng cấp, …

IV. ĐIỀU TRỊ

1. Điều trị sốt xuất huyết Dengue

Phần lớn các trường hợp đều được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở vật chất , chủ công là điều trị hiện tượng và phải theo dõi nghiêm ngặt phát hiện sớm sốc xảy ra để xử trí kịp thời.

1.1. Điều trị hiện tượng

– Nếu sốt cao ≥ 390C, cho thuốc bớt nhiệt , nới lỏng quần áo và lau mát bằng nước ấm.

– Thuốc bớt nhiệt chỉ được dùng là paracetamol đơn chất, liều dùng từ 10 – 15 mg/kg khối lượng /lần, cách nhau mỗi 4-6 giờ.

– Chú ý:

+ Tổng liều paracetamol không thật 60mg/kg khối lượng /24h.

+ Không dùng aspirin (acetyl salicylic acid), analgin, ibuprofen để điều trị vì có thể gây xuất huyết, toan máu.

1.2. Bù dịch sớm bằng đường uống: Khuyến khích bệnh nhân uống nhiều nước oresol hoặc nước sôi để nguội, nước trái cây (nước dừa, cam, chanh, …) hoặc nước cháo loãng với muối.

2. Điều trị Sốt xuất huyết Dengue có tín hiệu cảnh báo

Người bệnh được cho nhập viện điều trị .

– Chỉ định truyền dịch:

+ Nên chú ý truyền dịch nếu bệnh nhân không uống được, nôn nhiều, có tín hiệu mất nước, lừ thừ , hematocrit tăng cao; mặc dù huyết áp vẫn bình ổn .

+ Dịch truyền bao gồm: Ringer lactat, NaCl 0,9%.

– Chú ý:

+ Ở bệnh nhân ≥ 15 tuổi có thể chú ý ngưng dịch truyền khi hết nôn, ăn uống được.

+ Sốt xuất huyết Dengue trên cơ địa không giống nhau như đàn bà mang thai, trẻ nhũ nhi, người béo tốt , người già ; có các bệnh lý cố nhiên như đái tháo đường, viêm phổi, hen phế quản, bệnh tim, bệnh gan, bệnh thận, …; người sống một mình hoặc nhà ở xa cơ sở vật chất y tế nên chú ý cho nhập viện theo dõi điều trị .

3. Điều trị sốt xuất huyết Dengue nặng

Người bệnh phải được nhập viện điều trị cấp cứu

3.1. Điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue

a) Sốc sốt xuất huyết Dengue:

– Cần sẵn sàng các dịch truyền sau

+ Ringer lactat.

+ Dung dịch mặn đẳng trương (NaCl 0,9%)

+ Dung dịch cao phân tử (dextran 40 hoặc 70, hydroxyethyl starch (HES)).

– Cách thức truyền

+ Phải thay thế sửa chữa cuống quýt lượng huyết thanh mất đi bằng Ringer lactat hoặc dung dịch NaCl 0,9%, truyền tĩnh mạch nhanh với tốc độ 15-20 ml/kg khối lượng /giờ.

+ Phân tích lại tình hình bệnh nhân sau 1 giờ; truyền sau 2 giờ phải đánh giá lại hematocrit:

(α) Nếu sau 1 giờ bệnh nhân ra khỏi tình hình sốc, huyết áp hết kẹt, mạch quay rõ và trở về đơn giản , tay chân ấm, nước tiểu nhiều hơn, thì giảm tốc độ truyền xuống 10 ml/kg khối lượng /giờ, truyền trong 1-2 giờ; Tiếp đến giảm dần tốc độ truyền xuống 7,5ml/kg khối lượng /giờ, truyền 1-2 giờ; đến 5ml/kg khối lượng /giờ, truyền 4-5 giờ; và 3 ml/kg khối lượng /giờ, truyền 4-6 giờ tùy theo phục vụ lâm sàng và hematocrit.

(β) Nếu sau 1 giờ truyền dịch mà tình hình sốc không nâng cao (mạch nhanh, huyết áp hạ hay kẹt, tiểu vẫn ít) thì phải thay thế sửa chữa dịch truyền bằng dung dịch cao phân tử. Truyền với tốc độ 15-20 ml/kg khối lượng /giờ, truyền trong 1 giờ. Tiếp đến diễn đạt lại:

  • Nếu sốc nâng cao , hematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền cao phân tử xuống 10 ml/kg khối lượng /giờ, truyền trong 1-2 giờ. Tiếp đến nếu sốc tiếp tục nâng cao và hematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền cao phân tử xuống 7,5 ml/kg khối lượng /giờ, rồi đến 5 ml/kg khối lượng /giờ, truyền trong 2-3 giờ.

Theo dõi tình hình bệnh nhân , nếu bình ổn thì chuyển truyền tĩnh mạch dung dịch điện giải (xem cụ thể trong phụ lục 2).

  • Nếu sốc vẫn chưa nâng cao , thì đo sức ép tĩnh mạch trung ương (CVP) để quyết định bề ngoài xử trí.

Nếu sốc vẫn chưa nâng cao mà hematocrit giảm xuống nhanh (mặc dù còn trên 35%) thì cần phải kiểm tra để phát hiện xuất huyết nội tạng và chú ý công năng truyền máu. Tốc độ truyền máu 10 ml/kg khối lượng /1 giờ.

Chú ý: Tất cả sự chỉnh sửa tốc độ truyền phải dựa dẫm mạch, huyết áp , lượng bài tiết nước tiểu , tình hình tim phổi, hematocrit một hoặc hai giờ một lần và CVP.

b) Sốc sốt xuất huyết Dengue nặng

Trường hợp bệnh nhân vào viện trong tình hình sốc nặng (mạch quay không bắt được, huyết áp không đo được (HA=0)) thì phải xử trí rất khẩn trương.

– Để bệnh nhân nằm đầu thấp.

– Thở oxy.

– Truyền dịch:

+ Đối với bệnh nhân dưới 15 tuổi: Lúc đầu dùng bơm tiêm to bơm trực tiếp vào tĩnh mạch Ringer lactat hoặc dung dịch mặn đẳng trương với tốc độ 20 ml/kg khối lượng trong vòng 15 phút. Tiếp đến diễn đạt lại người bệnh, có 3 kĩ năng xảy ra:

  • Nếu mạch rõ, huyết áp hết kẹt, cho dung dịch cao phân tử 10 ml/kg khối lượng /giờ và xử trí tiếp theo như sốt xuất huyết Dengue còn bù.
  • Nếu mạch nhanh, huyết áp còn kẹt hoặc huyết áp hạ: Truyền dung dịch cao phân tử 15-20 ml/kg khối lượng /giờ, Tiếp đến xử trí theo điểm (β) ở trên.
  • Nếu mạch, huyết áp vẫn không đo được: Bơm tĩnh mạch trực tiếp dung dịch cao phân tử 20 ml/kg khối lượng /15 phút. Nên đo CVP để có phương hướng xử trí. Nếu đo được huyết áp và mạch rõ, thì truyền dung dịch cao phân tử 15-20 ml/kg khối lượng /giờ, Tiếp đến xử trí theo điểm (β) ở trên.

+ Đối với bệnh nhân ≥ 15 tuổi: Truyền dịch theo hướng dẫn

* Những chú ý khi truyền dịch

– Ngừng truyền dịch tĩnh mạch khi huyết áp và mạch trở về đơn giản , tiểu nhiều. Nói chung không quan trọng bù dịch nữa sau khi hết sốc 24 giờ.

– Cần chú ý đến sự tái thu nạp huyết tương từ ngoài lòng mạch trở lại lòng mạch (diễn đạt bằng huyết áp , mạch đơn giản và hematocrit giảm). Cần theo dõi hiện tượng phù phổi cấp nếu còn tiếp tục truyền dịch. Khi có hiện tượng bù dịch quá tải gây suy tim hoặc phù phổi cấp cần phải dùng thuốc lợi tiểu như furosemid 0,5-1 mg/kg khối lượng /1 lần dùng (tĩnh mạch). Trong trường hợp sau khi sốc bình phục mà huyết áp kẹt nhưng chi ấm mạch chậm, rõ, tiểu nhiều thì không truyền dịch, nhưng vẫn lưu kim tĩnh mạch, theo dõi tại phòng cấp cứu.

– Đối với bệnh nhân đến trong tình hình sốc, đã được chống sốc từ tuyến trước thì điều trị như một trường hợp không nâng cao (tái sốc). Cần chú ý đến số lượng dịch đã được truyền từ tuyến trước để tính toán lượng dịch sắp đưa vào.

– Nếu bệnh nhân người lớn có diễn đạt tái sốc, chỉ dùng cao phân tử không thật 1.000 ml đối với Dextran 40 và không thật 500 ml đối với Dextran 70. Nếu cốt truyện không thuận tiện , nên tiến hành :

+ Đo CVP để bù dịch theo CVP hoặc dùng vận mạch nếu CVP cao.

+ Theo dõi sát mạch, huyết áp , nhịp thở, da, niêm mạc, tìm xuất huyết nội để công năng truyền máu kịp thời.

+ Thận trọng khi tiến hành thủ thuật tại các vị trí khó cầm máu như tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch dưới đòn.

– Nếu huyết áp kẹt, nhất là sau một thời gian đã trở lại đơn giản cần nhận biết các nguyên cớ sau:

+ Hạ đường huyết

+ Tái sốc do không bù đắp đủ lượng dịch tiếp tục thoát mạch.

+ Xuất huyết nội.

+ Quá tải do truyền dịch hoặc do tái thu nạp .

– Khi điều trị sốc, cần phải chú ý đến điều chỉnh rối loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan: Hạ natri máu thường xảy ra ở hồ hết các trường hợp sốc nặng kéo dài và đôi khi có toan chuyển hóa. Do đó cần phải xác minh mức độ rối loạn điện giải và nếu có điều kiện thì đo các khí trong máu ở bệnh nhân sốc nặng và bệnh nhân sốc không phục vụ cuống quýt với điều trị .

3.2. Điều trị xuất huyết nặng

a) Truyền máu và các chế phẩm máu

– Khi bệnh nhân có sốc cần phải tiến hành xác minh nhóm máu để truyền máu khi cần.

– Truyền khối hồng cầu hoặc máu toàn phần:

+ Sau khi đã bù đủ dịch nhưng sốc không nâng cao , hematocrit giảm xuống nhanh (mặc dù còn trên 35%).

+ Xuất huyết nặng

b) Truyền tiểu cầu

– Khi số lượng tiểu cầu xuống nhanh dưới 50.000/mm3 cố nhiên xuất huyết nặng.

– Nếu số lượng tiểu cầu dưới 5.000/mm3 mặc dù chưa có xuất huyết có thể truyền tiểu cầu tùy từng trường hợp cụ thể .

c) Truyền plasma tươi, tủa lạnh: Xem xét truyền khi bệnh nhân có rối loạn đông máu dẫn đến xuất huyết nặng.

3.3. Điều trị suy tạng nặng

a) Tổn thương gan, suy gan cấp

– Hỗ trợ hô hấp: Thở oxy nếu thất bại thở NCPAP, chú ý đặt nội khí quản thở máy sớm nếu bệnh nhân có sốc kéo dài.

– Hỗ trợ tuần hoàn:

+ Nếu có sốc: chống sốc bằng NaCl 9% hoặc dung dịch cao phân tử, không dùng Lactat Ringer.

+ Nếu không sốc: bù dịch điện giải theo nhu cầu hoặc 2/3 nhu cầu khi bệnh nhân có rối loạn tri giác.

– Kiểm soát hạ đường huyết: Giữ đường huyết 80-120mg%, tiêm tĩnh mạch chậm 1-2ml/kg glucose 30% và duy trì glucose 10-12,5% khi truyền qua tĩnh mạch ngoại biên hoặc glucose 15-30% qua tĩnh mạch trung ương (chú ý dung dịch có pha điện giải).

– Điều chỉnh điện giải:

+ Hạ natri máu:

Natri máu < 120 mmol/L kèm rối loạn tri giác: bù NaCl 3% 6-10 ml/kg truyền tĩnh mạch trong 1 giờ.

Natri máu từ 120-125 mmol/L không hoặc kèm rối loạn tri giác: bù NaCl 3%/6-10ml/kg truyền tĩnh mạch trong 2-3 giờ.

+ Hạ kali máu: bù đường tĩnh mạch qua dịch pha hoặc đường uống.

– Điều chỉnh rối loạn thăng bằng toan kiềm: Toan chuyển hóa: bù bicarbonate 1-2mEq/kg tiêm mạch chậm (TMC).

– Điều chỉnh rối loạn đông máu/xuất huyết tiêu hóa (XHTH):

+ Huyết tương tươi đông lạnh 10-5 ml/kg: XHTH + rối loạn đông máu.

+ Kết tủa lạnh 1 đv/6kg: XHTH + fibrinogen < 1g/L.

+ Tiểu cầu đậm đặc: XHTH + số lượng tiểu cầu < 50000/mm3.

+ Vitamin K1: 1mg/kg/ngày (tối đa 10mg) TMC x 3 ngày.

– Điều trị/phòng tránh XHTH: Ranitidine 2mg/kg x 3 lần/ngày hoặc omeprazole 1 mg/kg x 1-2 lần/ngày.

– Rối loạn tri giác/co giật:

+ Chống phù não: mannitol 20% 2,5ml/kg/30 phút x 3-4 lần/ngày.

+ Chống co giật: diazepam 0,2-0,3 mg/kg TMC hoặc midazolam 0,1 – 0,2mg/kg TMC. Chống công năng : phenobarbital.

+ Giảm amoniac máu: Thụt tháo bằng nước muối sinh lý ấm, lactulose, metronidazol, neomycin (gavage).

– Kháng sinh toàn thân phổ rộng. Tránh dùng các kháng sinh chuyển hóa qua gan chả hạn như pefloxacine, ceftraxone.

– Không dùng paracetamol liều cao vì gây độc tính cho gan.

– Lưu ý: điều trị giúp sức thương tổn gan cần chú ý chống sốc hăng hái nếu có, hô hấp giúp sức sớm nếu sốc không nâng cao , theo dõi điện giải đồ, đường huyết nhanh, khí máu động mạch, amoniac máu, lactat máu, đông máu tổng cộng mỗi 4-6 giờ để điều chỉnh kịp thời các bất thường nếu có.

b) Suy thận cấp: Điều trị bảo tồn và chạy thận nhân tạo khi có công năng và huyết động bình ổn . Lọc máu liên tiếp nếu có diễn đạt suy đa tạng đi kèm hoặc suy thận cấp huyết động không bình ổn . Chỉ định chạy thận nhân tạo trong sốt xuất huyết suy thận cấp.

– Rối loạn điện giải kiềm toan mà không phục vụ điều trị nội khoa.

+ Tăng kali máu nặng > 7mEq/L.

+ Rối loạn Natri máu nặng đang tiến triển ([Na] > 160 hay < 115 mmol/L).

+ Toan hóa máu nặng không nâng cao với bù Bicarbonate (pH < 7,1).

– Hội chứng urê huyết cao: Rối loạn tri giác, nôn, xuất huyết tiêu hóa, Urê máu > 200 mg% và hoặc creatinine trẻ nhỏ > 1,5 mg% và trẻ lớn > 2mg%.

3.4. Quá tải dịch không phục vụ điều trị nội khoa

– Suy tim ứ huyết, cao huyết áp .

– Phù phổi cấp.

– Chỉ định lọc máu liên tiếp trong sốt xuất huyết: Khi có hội chứng suy đa tạng kèm suy thận cấp hoặc suy thận cấp huyết động không bình ổn .

3.5. Sốt xuất huyết Dengue thể não, rối loạn tri giác, co giật

– Hỗ trợ hô hấp: thở oxy, nếu thất bại CPAP sức ép thấp 4-6cmH2O, nếu thất bại thở máy.

– Bảo đảm tuần hoàn: Nếu có sốc thì điều trị theo phác đồ chống sốc và dựa dẫm CVP.

– Chống co giật.

– Chống phù não.

– Hạ sốt.

– Hỗ trợ gan nếu có thương tổn .

– Điều chỉnh rối loạn nước điện giải, kiềm toan.

– Bảo đảm chăm sóc và dinh dưỡng.

– Phục hồi tính năng sớm.

3.6. Viêm cơ tim, suy tim: vận mạch dopamine, dobutamine, đo CVP để diễn đạt dung tích tuần hoàn.

4. Thở oxy: Tất cả các bệnh nhân có sốc cần thở oxy gọng kính.

5. Sử dụng các thuốc vận mạch.

– Khi sốt kéo dài, cần phải đo CVP để quyết định thái độ xử trí.

– Nếu đã truyền dịch đầy đủ mà huyết áp vẫn chưa lên và sức ép tĩnh mạch trung ương đã trên 10 cm nước thì truyền tĩnh mạch.

+ Dopamin, liều lượng 5-10 mcg/kg khối lượng /phút.

+ Nếu đã dùng dopamin liều 10 mcg/kg khối lượng /phút mà huyết áp vẫn chưa lên thì nên phối hợp dobutamin 5-10 mcg/kg khối lượng /phút.

6. Các giải pháp điều trị khác

– Khi có tràn dịch màng bụng, màng phổi gây nghẹt thở , SpO2 giảm xuống dưới 92%, nên cho bệnh nhân thở NCPAP trước. Nếu không nâng cao mới chú ý công năng chọc hút để giảm sút dịch màng bụng, màng phổi.

– Nuôi dưỡng bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue theo hưỡng dẫn của bộ y tế.

7. Chăm sóc và theo dõi bệnh nhân sốc

– Giữ ấm.

– Khi đang có sốc cần theo dõi mạch, huyết áp , nhịp thở từ 15-30 phút 1 lần.

– Đo hematocrit cứ 1-2 giờ 1 lần, trong 6 giờ đầu của sốc. Tiếp đến 4 giờ 1 lần cho đến khi sốc bình ổn .

– Ghi lượng nước xuất và nhập trong 24 giờ.

– Đo lượng nước tiểu .

– Theo dõi tình hình thoát dịch vào màng bụng, màng phổi, màng tim.

8. Tiêu chuẩn cho bệnh nhân xuất viện

– Hết sốt 2 ngày, tỉnh táo .

– Mạch, huyết áp đơn giản .

– Số lượng tiểu cầu > 50.000/mm3.

9. Phòng bệnh

– Thực hiện công việc đo lường , phòng chống sốt xuất huyết Dengue theo lao lý của Bộ Y tế.

– Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh.

– Biện pháp phòng bệnh chủ công là kiểm soát sâu bọ trung gian truyền bệnh như tránh muỗi đốt, diệt bọ gậy (loăng quăng ), diệt muỗi trưởng thành, vệ sinh môi trường sa thải ổ chứa nước đọng.

 

Item :412

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây nên. Vi rút Dengue có 4 týp thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu.

Giá sản phẩm: Liên hệ(Giá sỉ lẻ rẻ nhất Việt Nam)

Tới trang đặt hàng

Đặt hàng tại: Đặt mua thuốc trực tuyến
Trang chủ nhà thuốc: Nhà thuốc Online
Hotline: 0981 199 836

Lưu ý: Tin tức copy tại nhiều nguần khác nhau, nếu không ghi rõ nguần, mong chủ bài viết thông cảm và phản hồi lại giúp nếu tin tức có bản quyền và cần thâm nguần trích dẫn. muathuoconline.net cảm ơn các bạn

CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
Đánh giá bài viết

adminnhathuoc

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *